Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015 0 nhận xét

Tôn giáo chính thống của người Việt Nam

     Trong chuyên luận của mình, tác giả Toan Ánh coi “thờ phụng tổ tiên không phải là một thứ tôn giáo… mà là lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với người đã khuất”’, có nghĩa đây chỉ là một phong tục có tính đạo lý.      Cô giáo sư Nguyễn Đổng Chi phân vân “nó gần như một thử tôn giáo” còn giáo sư Đặng Nghiêm Vạn khẳng định đó là “tôn giáo chính thống của người Việt Nam”3 dù rằng theo ông, nó “không có tổ chức chặt chẽ, nhưng dường như toàn bộ cộng đồng quan niệm tiến hành các lề thức giống nhau và là tâm linh chủ yếu của cả cộng đồng, là lực hút các yếu tố ngoại sinh hay là những yếu tố gia nhập vào các tôn giáo khác. Ở miền Nam nước ta, thờ cúng tổ tiên được nhân dân gọi là đạo ông bà. Quan niệm là tín ngưỡng, tôn giáo hay phong tục, thực chất đều xuất phát từ khái niệm “tồn giáo”.

Tôn giáo chính thống của người Việt Nam

     Theo tiêu chí truyền thống về “tôn giáo”, các yếu tố giáo lý, giáo chủ, tín đồ… được xem xét rất chặt chẽ. Theo lý thuyết này, chỉ có thể kể tới các tôn giáo có tính chất quốc tế như Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, những tôn giáo khu vực như Khổng giáo, Ấn Độ giáo, Bà là cô giáo, và có thể cả những tôn giáo địa phương như Cao Đài, Hòa Hảo… Còn hầu hết các hình thức thờ phụng, tế lễ khác được coi là “tín ngưỡng”. Quan niệm rộng rãi hơn có người coi tất cả là tôn giáo, hoặc tôn giáo chính thống, hoặc tôn giáo sơ khai. Nếu xem xét tôn giáo chỉ ở “tính cộng đồng, tính xã hội, tính quyết định tâm linh liên kết các thành viên của một xã hội ở các cấp độ khác nhau”4 thì thờ cúng tổ tiên được coi là tôn giáo, “mặc dầu không có một tổ chức thống nhất quản lý, nhưng cũng được quy định khá chặt chẽ qua truyền thống và tập quán”5. Cũng có thể coi đó là một phong tục đã được tôn giáo hóa, hoặc từ những hành vi có tính chất tôn giáo đến chỗ thế tục hóa để trở thành phong tục. về mặt lý luận, vấn đề này còn cần được thảo luận thêm. Tuy nhiên, hiện nay, cổ một cách dùng, một thuật ngữ mang tính chất “trung hòa”, đó là Đạo (nghĩa là con đường, là cách thức…) – đạo thờ Tổ tiên. Còn theo quan niệm truyền thống phổ biến, thờ cúng tổ tiên vẫn được coi như một tín ngưỡng.
     Như đã nêu ở phần trên, nội dung tín ngưỡng của tục thờ cúng tổ tiên là quan niệm về sự tồn tại của linh hồn và mối liên hệ giữa người đã chết và người sống (cùng chung huyết thống) bằng con đường: hồn về chứng kiến, theo dõi hành vi của con cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống của họ. Trong tín ngưỡng này, đạo lý là nội dung nổi trội.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tục thờ cúng tổ tiên, cúng gia tiên
0 nhận xét

Truyền thuyết Hùng Vương và tín ngưỡng thờ Quốc tổ

     Lịch sử của truyền thuyết Hùng Vương và tín ngưỡng thờ Quốc tổ cũng có những điểm cần chú ý. Thư tịch sớm nhất có nhắc tói Hùng Vương là Việt Điện u linh của Lý Tế Xuyên, nhưng chỉ được nhắc đến thoáng qua trong chuyện thần Tản Viên (thần núi) cầu hôn Mỵ Nương.     Ngay trong danh sách phong thần lần đầu tiên của nhà Trần (năm Trùng Hưng thứ nhất 1285) có cả Tản Viên. Hai Bà Trưng, Phùng Hưng, Triệu Quang Phục, thậm chí có cả Sĩ Nhiếp, nhưng không có Hùng Vương. Có thể nói, cho đến thế kỷ thứ XIII, truyện tích về Hùng Vương (chứ chưa nói gì đến các lễ nghi thờ cúng) chưa phát triển trên đất Đại Việt, hay nói cách khác, nếu có, chỉ mới lưu truyền tản mạn trong dân gian.

Truyền thuyết Hùng Vương và tín ngưỡng thờ Quốc tổ

       Mãi đến nửa cuối thế kỷ XIV, có lẽ do yêu cầu đặt ra của xã hội đương thời, các nhà nho mới bắt đầu quan tâm đến việc đưa nhân vật này chứng minh, biện giải cho vấn đề quốc tổ. Sách Việt sử lược đưa ra bằng chứng dân tộc học khẳng định cuối thế kỷ EX trước công nguyên, Hùng Vương chỉ là một pháp sư, tóm bắt cả thần quyền và thế quyền, đến Lĩnh Nam chích quái, Hùng Vương đã được mang một khuôn mặt mới theo tuyến chuyển từ tổ tiên – Tôtem giáo đến quan niệm tổ tiên gần gũi hơn. Đó là trục từ nhân vật Lạc Long Quân – Âu Cơ chia con đến tám đời vua Hùng và Thục An Dương Vương với việc xây thành cổ Loa giữ nước. Năm 1470, vua Lê Thánh Tông cho lập ngọc phả Hùng Vương – vị Thánh Vương ngàn đôi của cổ Việt. Tiếp đó, Đại Việt sử ký Toàn thư của. Ngô Sỹ Liên đã đưa truyện quốc tổ Hùng Vương và chính sử trong mục truyện họ Hồng Bàng, phần Ngoại Kỷ.

     Do đó, tín ngưỡng thờ vua Hùng phải xuất hiện muộn hơn, hoặc việc thờ Hùng Vương đã có ở một số làng quê nhưng chỉ được “chính thống hóa” ở giai đoạn Lê – Nguyễn về sau.

0 nhận xét

Các tư tưởng và học thuyết của Nho giáo

     Các tư tưởng và học thuyết của Nho giáo đã trở thành vũ khí lý luận cho các vương triều phong kiến Việt Nam tổ chức quản lý quốc gia trong giai đoạn độc lập tự chủ. Bởi thế chẳng đáng ngạc nhiên khi tín ngưỡng thờ tổ tiên không chỉ được lễ thức hóa mà còn được các vương triều thừa nhận, thể chế hóa bàng pháp luật.      Chẳng hạn, Quốc triều hình luật của nhà Lê đã đưa ra những quy định rất chặt chẽ về luật hương hỏa (điều 399 và 400): Ruộng hương hỏa, dù con cháu nghèo khó, cũng không được đem bán trái pháp luật, có người tố cáo phải ghép vào tội bất hiếu. Nếu người trong họ mua ruộng đất ấy thì mất số tiền mua. Người ngoài mà mua thì phải cho chuộc, người mua không được cố giữ. Đây là nguồn tài sản được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác dành cho việc thờ cúng tổ tiên, không được xâm phạm. Hon thế, các trong triều còn có chế độ khen thưởng bổng lộc cho những bậc “ hiếu tử” – những người mà lúc “cha mẹ sống lấy lễ mà thờ, cha mẹ chết lấy lễ mà táng”.

Các tư tưởng và học thuyết của Nho giáo

     Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người Việt đã hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở quan niệm tâm tình cũng như một nền tảng kinh tế – xã hội – tư tưởng khá bền vững. Có thể nói, những yếu tố tâm linh có tính bản địa và mộc mạc đã được thể chế hóa, họp pháp hóa nhờ hệ tư tường Nho giáo và ủng hộ của các vương triều. Chính vì vậy, tín ngưỡng này đã được bảo tồn qua suốt tiến trình lịch sử nhiều biến động.
Bản chất
     Thờ cúng tổ tiên là một phong tục, một tín ngưỡng hay một tôn giáo? Vấn đề này được các nhà nghiên cứu quan niệm khác nhau: người thì coi là một mỹ tục, người lại khẳng định đó đích thực là một tôn giáo bản địa…
Nội hàm của khái niệm “tổ tiên “và “thờ cúng tổ tiên” cần được xác định cụ thể. Có tác giả cho rằng “tổ tiên”bao gồm từ tổ nhà, tổ họ, cho đến tổ làng, tổ nghề, tổ nước – tức là những người có công đầu tiên hoặc trực tiếp tới việc sinh thành, mở làng, mở nghề, dựng nước. Với quan niệm này, khái niệm được mở rộng rất nhiều và không được phân biệt rõ ràng. Trong thực tế, rất nhiều bậc tổ làng (tiền hiền khai ấp, hậu hiền khai cơ) được tôn sùng là Thành hoàng cai quản không gian thiêng liêng của làng. Trong số các thần Thành hoàng cũng có một số nghề. Theo chúng tôi, khái niệm “tổ tiên “được giới hạn trong trục huyết thống, bằng quan hệ thân tộc: tổ nhà, tổ họ. Rộng hơn, với xu hướng mở và quan niệm tâm lỉnh của người Việt, vị thần tổ của nước – vua Hùng – cũng được soi dưới góc độ thân tộc, dù là mối liên hệ xa hơn và mang tính huyền thoại. Ở đây, cũng cần phân biệt khái niệm “tổ tiên” trong tín ngưỡng ở nước ta khác với “tổ tiên – Tôtem giáo” thường phổ biến ở nhiều tộc người. Tín ngưỡng thờ “tổ tiên – Tôtem giáo” ra đời rất sớm. Các thị tộc mẫu hệ thường tôn sùng một biểu tượng Tôtem như tổ tiên của mình, đó có thể là biểu tượng thực vật, động vật (phần lớn là một loài vật nào đó) hoặc nửa người, nửa vật. Một vài tộc người ở Tây Nguyên vốn có tục “cà răng” như dấu ấn về sự mong muốn có hình dáng gần gũi với đặc trưng của tổ tiên (loài vật nhai lại). Truyền thuyết “cha Rồng – mẹ Chim” (Lạc Long Quân – Âu Cơ) của người Việt đã phản ánh loại tín ngưỡng Tôtem này của người Việt cổ. Cũng không phải không có lý do khi “cha Rồng – mẹ Chim” phải chuyển hóa thành Hùng Vương – một ông vua cụ thể – để làm cơ sở cho nội hàm khái niệm “tổ nước”.

0 nhận xét

Các mặt trái ngược trong nho giáo

     Ý thức về tổ tiên, về mối liên hệ giữa tổ tiên và con cháu được dụng thành lý thuyết và “lễ thức hóa”: ở thời điểm muộn hơn. Chính hệ tư tưởng Nho giáo đã “có công thổi vào quan điểm bản địa mộc mạc này một triết lý, một tổ chức, một nghi thức, một niềm tin sâu sắc”. 
    
Các mặt trái ngược trong nho giáo

     Trong quá trình Hán hóa, “nền vần minh trồng lúa nước ở châu thổ sông Hồng đã hòa với nền văn minh chung của Á Đông mà Trung Quốc là Trung tâm”3 trên mọi mặt, trong đó bao gồm cả phong tục, tín ngưỡng. Các nguồn sử liệu Trung Quốc có ghi về dòng người Hán di cư xuống phía Nam suốt từ thời Tây Hán đến thòi Đường, và sau nảy trở thành một bộ phận cư dân Việt Nam. Đó là chưa kể các chính sách, biện pháp nhằm đồng hóa dân Giao Châu của các chính quyền phong kiến phương Bắc. Từ đó, có ý kiến cho rằng, các nghi thức thờ cúng tổ tiên được tiến hành đầu tiên trong người Hán rồi dần dần sang người Việt. Văn hóa Hán với cơ sở lý luận là hệ tư tưởng Nho giáo đã tạo điều kiện thuận lọợi cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được tồn tại và duy trì. Đó là những học thuyết có tính lý luận về gia đình – tế bào của xã hội, và “tề gia”được coi là một nấc thang của quá trình “tu thân”. Hơn nữa, lý thuyết Nho giáo đặc biệt đề cao chữ hiếu đến mức trở thành đạo hiếu. Hiếu là biểu hiện của nhân, hiếu gắn với trung, là nguồn gốc của trung. Khổng Tử nói: “Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận là vâng mệnh người trên, đem những điều đó mà thi thố ra thiên hạ, thì không có điều gì là không làm được”.
     Trong tư tưởng Nho giáo cũng có hai mặt trái ngược: một mặt, Khổng Tử cho rằng “Kính quỷ thần nhi viễn chỉ” (kính cẩn nhưng tránh xa quỷ thần), mặt khác lại nói: “VỊ năng sự nhân, yên năng sự quỷ” (chưa biết thờ người sao biết thờ quỷ thần?). Như vậy, Nho giáo thừa nhận có sự tồn tại của lỉnh hồn, có thiên mệnh, có quỷ thần, và đặc biệt là linh hồn tổ tiên. Khổng Tử đã phê phán: “phi kỳ quỷ nhi tế chỉ siển dã” (không phải quỷ thần của mình mà cúng tế là Xiểm nịnh) và chủ trương chỉ thờ linh hồn thuộc về mình (kỳ quỷ), cụ thể: vua thì thờ trời, đất; dân thường thì thờ tổ tiên.


0 nhận xét

Sự ra đời và duy trì của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

      Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được ra đời và duy trì trong những điều kiện lịch sử – xã hội nhất định. Từ hình thức liên minh cộng đồng nguyên thủy đến hình thức liên kết gia đình sơ khai theo trục huyết thống nam đã là một chặng đường lịch sử khá dài, nhưng đến thòi điểm xác lập “quyền trưởng nam” còn muộn hơn.     

Sự ra đời và duy trì của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

     Người ta thường chú ý tới ba yếu tố quan trọng xác lập quyền trưởng nam: giới tính (đương nhiên phải là con trai), thứ bậc (con trai trưởng) và cả vị trí của người mẹ (phải là mẹ đích – “đích mẫu”). Theo dã sử, quyền trưởng nam của người Việt có thể hình thành ở thời kỳ Bắc thuộc với sự kiện Phùng Hưng mất, em trai là Phùng Hải lên thay nhưng quân sĩ đã tìm cách phế bỏ, tôn con trai trưởng của Phùng Hưng là Phùng An kế vị. Cũng có giả thuyết, thời điểm này sớm hơn với chi tiết người con trai cả trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi, được làm vua – vua Hùng. Thục ra câu chuyện này về họ Hồng Bàng được ghi chép lần đầu tiên trong “Lĩnh Nam Chích quái”, tác phẩm của thế kỷ XIV, vậy liệu có chịu ảnh hưởng của ý thức hệ về quyền trưởng nam đã được xác lập thòi nhà Trần? Còn theo chính sử, quyền trưởng nam ở Việt Nam xuất hiện chính thức vào thời Lý, sau mười hai thế kỷ Bắc thuộc và muộn hơn thời điểm xác lập ở Trung Hoa 20 thế kỷ., Lý Thái Tổ đã phong con trướng là Phật Mả làm thái tử. Có lẽ đến lúc này, người Việt mói hình thành rỏ rệt ý thức về cội nguồn, ý thức duy trì nòi giống cũng như ý thức vẻ địa vị gia đình trong cộng đồng xã hội và về quyền thừa kế tài sản. Dù rằng ở nước ta sở hữu kinh tế mang tính cộng đồng là chủ yếu, nhưng ít nhiều ý thức về quyền thừa kế cũng vẫn hình thành.
     Mặt khác, theo con đường “chung tộc danh về phía bố”, các gia đình nhỏ liên kết lại với nhau thành họ. Đây là loại đơn vị ngoại hôn vì các thành viên trong họ liên kết với nhau bằng sợi dây huyết thống và cùng chung một vị thủy tổ. Trong quá trình hình thành và củng cố, kiểu tập họp gia đình theo tộc danh phụ hệ này thường không có mục đích kinh tế rõ ràng. Và theo giáo sư Từ Chi, họ chỉ nhằm giải quyết hai vấn đề: đảm bảo chế độ ngoại hôn trong từng đơn vị chung tộc danh về phía bố và việc thờ cúng tổ tiên được rộng rãi nhất.

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015 0 nhận xét

Yếu tố quan trọng hình thành tín ngưỡng

     Trong khía cạnh kinh tế này có một điểm quan trọng đã tạo nên nét khác biệt trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và Trung Hoa. Do đặc trưng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, gió mùa nên Việt Nam sản xuất lúa nước theo truyền thống tiểu canh kết hợp với nuôi gia súc.  
  
Yếu tố quan trọng hình thành tín ngưỡng

     Vì vậy, ở nước ta, sản xuất không đòi hỏi tập trung nhân công theo quy mô lớn như ở nơi sản xuất lúa mỳ khô, công cụ sản xuất cũng nhỏ gọn nhẹ, mọi thành viên trong gia đình kể cả phụ nữ và trẻ em đều sử dụng dễ dàng. Kết hợp tất yếu của quy trình sản xuất này khiến người Việt gắn bó với gia đình (thường là gia đình hạt nhân) chặt hơn với dòng họ. Hầu như gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên (dù thờ chính hay thờ vọng) nhưng không phải dòng họ nào cũng có từ đường. Ở Trung Hoa tình hình có khác: dòng họ thường tập trung và bao giờ cũng có từ đường song bàn thờ tổ tiên lại không bắt buộc lập trong mỗi gia đình. Mặt khác, điều kiện sản xuất cho phép mọi thành viên tham gia tương đối lớn cũng có vai trò tương đối bình đẳng trong gia đình, kể cả trong sinh hoạt tín ngưỡng.
      Hình thức tổ chức xã hội cũng là một yếu tố quan trọng cho việc hình thành tín ngưỡng. Cũng theo Tôkarép, việc thờ cúng vật linh có thể xuất hiện ở thời kỳ mẫu hệ, nhưng thờ cúng tổ tiên phải gắn bó với thòi kỳ phụ hệ. Ở giai đoạn thị tộc phụ quyền, người đàn ông bắt đầu nắm giữ quyền hành quản lý gia đình do họ đã có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế. Vợ và con cái họ tuyệt đối phục tùng và tôn trọng cái uy quyền đã được xác lập ấy, không chỉ khi họ còn sống mà cả khi họ qua đời. Những đứa con mang họ cha đã kế tiếp ý thức về uy quyền, và phải chăng, các nghi thức ma chay, cúng tế tổ tiên cũng chính là “hình thức phần ánh hoang đường quyền hành gia trưởng trong một gia đình”

0 nhận xét

Quan niệm về linh hồn

     Tuy quan niệm về linh hồn khá phổ biến, nhưng không phải tộc người nào cũng thờ cúng tổ tiên. Ở phương Tây, nhiều vùng cũng có ngày “ký ức gia đình” để tưởng niệm những người thân đã chết, nhưng đó là tất cả những người đã chết nói chung chứ không phải ngày mất của một người cụ thể.      Ở Việt Nam, mặc dù tất cả các tộc người đều có quan niệm tổ tiên và một số tộc người có những hình thức tôn thờ ở những mức độ khác nhau, nhưng theo nhiều nhà nghiên cứu, các hình thức đó, hoặc tục cúng người chết trong tang lễ, cung cấp vật dụng khi chôn người chết, thờ một vài năm, hay lễ bỏ mả (bỏ ma)…, không đồng nhất với hình thức thờ cúng tổ tiên truyền thống của người Việt (thờ cúng tiếp nối, lâu dài). Ở lê bỏ mả của người Êđê (thường sau khỉ chôn cất từ một cho tới bảy nám), trong lễ thức Vĩnh biệt người đã chết lần cuối cùng, người ta khấn rõ: “Từ nay hồn đi ờ nơi khác. Nhà không đem cơm, không đem nước – hồn không có gì phải buồn. Hàng năm, nhà không nhắc tới hồn nữa. Hồn không còn liên quan, dứt khoát không gần bố mẹ nữa. Đã tách riêng hai vùng khác nhau, đã chia đôi. Hồn muốn uống nước phải hỏi AêĐiê, muốn ăn cơm phải hỏi Dang Lăn, muốn ăn thịt cá phải hỏi Dang Kotao. Bố mẹ đã làm tròn nghĩa vụ với hồn”.

Quan niệm về linh hồn

     Vì vậy, những nét tương đồng của hình thức tín ngưỡng này chỉ nhận thấy rõ nhất ở một vài nước Đông Nam Á. Đặc biệt ở Trung Quốc.
     Xã hội cổ truyền của người Việt cũng có những cơ sở kinh tế xã hội nhất định cho việc hình thành và duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Trước hết, đó là nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp. Đây chính là môi trường thuận lợi cho sự xuất hiện tín ngưỡng đa thần. Xét về phương diện kinh tế, làng xã Việt Nam đã gần như một đơn vị độc lập và tương tự như thế, là tế bào của nó – hộ gia đình nhỏ. Hình ảnh “chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” đã mang tính chất điển hình cho nền kinh tế tiểu nông của người Việt. Điều này là nhân tố quan trọng gắn bó các thành viên của gia đình cùng một thế hệ, và giữa các thế hệ (sự chuyển giao kỹ thuật canh tác bằng con đường truyền nghề qua thế hệ). Mở rộng ra, các gia đình cư trú quần tụ theo họ, và nhiều họ tập họp thành làng. Trước làng, con người không tồn tại với tư cách cá nhân mà dưới danh nghĩa gia đình, dòng họ – những đơn vị huyết thống. Các dòng họ lớn, nhiều đòi, nhiều chi, nhiều người khoa bảng thường có thế lực rất mạnh trong làng, thậm chí nhiều khi thao túng cả bộ máy làng xã. Có thể nói, nền kinh tế tiểu nông ấy đã là mảnh đất thuận lọi cho việc củng cố và phát triển ý thức thân tộc cũng như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở làng xã.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng tôn giáo
 
;